
Đinh Thị Lan
Trường Đại học Tân Trào
Tóm tắt
Đào tạo gắn với thực tiễn là một trong những yếu tố nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học. Trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi công tác giảng dạy học phần thuế nói riêng và giảng dạy các học phần về kế toán, kinh tế, kinh doanh nói chung cần phải đổi mới cách thức và phương pháp để đáp ứng trước những thay đổi trong môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế, công nghệ để sản phẩm đào tạo của nhà trường đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội. Bài viết nhằm phân tích thực trạng công tác giảng dạy và học tập học phần thuế nhà nước trong chương trình đào tạo ngành kế toán tại các trường đại học, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy học phần thuế nhà nước theo hướng tiếp cận thực tế giúp trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cho người học nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.
Từ khóa: Thuế, thuế nhà nước, thực tiễn, công nghiệp 4.0, phương pháp dạy học
Summary
Practice-oriented training is one of the key factors in enhancing the quality of education at universities. In the context of the rapidly developing digital economy, the teaching of taxation modules in particular, and accounting, economics, and business modules in general, requires innovation in both content and methodology to adapt to the evolving domestic and international business environments and technological advancements. This is essential to ensure that the university’s educational outputs meet the human resource demands of society. This paper aims to analyze the current state of teaching and learning of the public taxation module within accounting programs at universities, thereby proposing innovative solutions for teaching methodologies. These solutions are designed to align with practical approaches and equip learners with the necessary knowledge and skills to meet labor market requirements.
Keywords: Tax, public taxation, practical approach, Industry 4.0, teaching methodology
ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác đào tạo ngành kế toán tại các trường đại học Việt Nam trong những năm gần đây được chú trọng phát triển cả về chất lượng và nội dung chương trình đào tạo. Song song với phát triển chương trình đào tạo thì việc sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực ở bậc đại học nói chung và ở từng môn học nói riêng được các giảng viên cập nhật, thay đổi, sử dụng nhằm giúp cho sinh viên lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hiệu quả của việc này còn thấp vì cơ sở vật chất và kinh phí của các trường còn hạn chế. Mặt khác, sự phối hợp với các doanh nghiệp để sinh viên thực hành, thực tập còn gặp nhiều khó khăn, thời gian thực tập ngắn, thậm chí chỉ là hình thức.
Thuế được đưa vào chương trình đào tạo cử nhân kế toán của hầu hết các trường đai học hiện nay. Tuy nhiên, số lượng các văn bản pháp luật về thuế của Việt Nam hiện nay khá lớn, phức tạp và thường xuyên thay đổi. Trong các đợt thực tế, thực tập tại các doanh nghiệp, cơ quan, tác giả nhận thấy có nhiều ý kiến phản hồi về sinh viên còn hạn chế về kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ thuế.
Học phần thuế nhà nước cung cấp các kiến thức căn bản về các sắc thuế; giúp cho người học biết được phương pháp xác định thuế, kê khai, nộp và quyết toán các loại thuế hiện nay đang áp dụng với từng loại hình sản xuất kinh doanh, từng ngành nghề của các tổ chức, cá nhân. Do vậy, hướng sinh viên tiếp cận thực tiễn không chỉ có ý nghĩa ngay trong quá trình học tập tại trường, mà còn chuẩn bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho quá trình công tác, thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn sau khi ra trường, đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng trong tương lai.
THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY HỌC PHẦN THUẾ NHÀ NƯỚC GẮN VỚI THỰC TIỄN
Nghiên cứu chương trình đào tạo ngành kế toán tại các trường đại học Việt Nam cho thấy, học phần thuộc khối kiến thức ngành với khối lượng kiến thức từ 2 đến 3 tín chỉ, học phần thuế nhà nước bao gồm các kiến thức cơ bản sau: tổng quan về thuế; thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu, nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân; các sắc thuế khác; quản lý thuế; thuế trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực tế hiện nay, giảng viên dạy học phần thuế nhà nước đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy còn tùy thuộc vào khả năng và sự bố trí sắp xếp của từng giảng viên trên lớp (chỉ ở mức không thường xuyên).
Tại một số trường đại học đã đưa vào chương trình giảng dạy học phần thuế nhà nước phong phú theo lĩnh vực và loại hình đơn vị. Bên cạnh đó, có một số trường hợp tăng cường thực hành nghiệp vụ hoặc làm các bài tập lớn theo cá nhân hoặc theo nhóm. Qua phương pháp giảng dạy này, sinh viên được rèn luyện tính tỉ mỉ, cẩn thận, hình dung được cách xác định thuế, quy trình kê khai thuế và lập các báo cáo thuế một cách cơ bản. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hành như vậy còn hạn chế, sinh viên chưa được tiếp xúc nhiều với tài liệu, chứng từ, báo cáo thuế. Hơn nữa, việc tiếp cận thực tế hoàn toàn thủ công không thực sự phù hợp trong bối cảnh nền kinh tế số hiện nay. Ngược lại, trong chương trình đào tạo ở nhiều trường đại học đã đưa vào giảng dạy học phần kế toán máy trên phần mềm kế toán, giúp người học tiếp cận gần hơn với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập và chuẩn bị các kỹ năng cho phát triển nghề nghiệp sau khi ra trường.
Thêm vào đó, một đòi hỏi cần thiết đối với giảng dạy học phần thuế nhà nước là sinh viên cần được thực hành việc tính toán, khai báo và nộp thuế trực tuyến để đáp ứng yêu cầu công việc, bởi thực tế cho thấy, số lượng doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử là rất lớn. Tính đến ngày 31/12/2024, có 952.327 doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử trên tổng số 952.967 doanh nghiệp đang hoạt động, đạt tỷ lệ 99,93% (Hoàng Minh, 2025). Tuy nhiên, giảng viên gặp rất nhiều khó khăn khi không thể kết nối với hệ thống khai báo trực tuyến. Nguyên nhân là do cơ sở đào tạo không có đủ máy tính cho sinh viên thực hành; số lượng sinh viên trên mỗi nhóm học khá lớn; việc đăng ký và đăng nhập vào hệ thống khai báo điện tử đòi hỏi phải được cơ quan thuế chấp nhận; không có chứng thư số hoặc chữ ký số để thực hiện việc kê khai.
Những hạn chế trên dẫn tới việc thực hành của sinh viên cũng gặp khá nhiều khó khăn hoặc nếu có cũng chỉ qua loa, chiếu lệ. Để lấp đầy lỗ hổng này, giảng viên thường minh họa bằng hình ảnh, video về cách thức kê khai trên phần mềm và cách thức thu nộp thuế trực tuyến, nhưng phương pháp này thường không đạt hiệu quả cao, vì sinh viên khó hình dung khi không trực tiếp thao tác.
Ngoài ra, một bộ phận giảng viên chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến thuế trong các tổ chức cũng như không có cơ hội thực hành thực tế về đăng ký, kê khai, thu nộp các loại thuế. Điều này dẫn đến 2 vấn đề: giảng viên diễn giải nội dung của các văn bản pháp luật không đúng theo ý nghĩa thực tế của các văn bản đó hay là chỉ đơn thuần tóm tắt câu chữ trong các văn bản mà không có giải thích cụ thể gì thêm và gắn kết nội dung đó với một hoặc vài vấn đề thực tiễn đã và đang xảy ra trong thực tế. Nguyên nhân chính là do phần lớn giảng viên phải dành thời gian giảng dạy tại trường, mà ít có kết nối với thực tế công việc bên ngoài với vai trò như là một kế toán viên, một tư vấn viên hay một đại lý thuế. Vì vậy, họ khó có thể áp dụng các nghiên cứu cũng như chọn lựa các tình huống thực tiễn để minh họa một cách sinh động cho bài giảng của mình.
Đối với các cơ sở kinh doanh tại Việt Nam, thuế bị coi là một lĩnh vực nhạy cảm nên không dễ để sinh viên được tiếp cận khi họ đến kiến tập hoặc thực tập tại các đơn vị. Vì vậy, kết quả thu được từ các đợt thực tập, kiến tập của sinh viên không nhiều và không cao. Qua nhiều năm hướng dẫn sinh viên, tác giả nhận thấy, đã ghi nhận nhiều trường hợp doanh nghiệp tiếp nhận sinh viên nhưng không cho sinh viên tiếp xúc với bất kỳ công việc gì ngoài việc cung cấp số liệu, thậm chí có doanh nghiệp không yêu cầu sinh viên đến thực tập hoặc từ chối nhận sinh viên thực tập. Khi xây dựng chương trình đào tạo, các cơ sở giáo dục đều có khâu lấy ý kiến phản hồi của các bên có liên quan, trong đó có các đơn vị tuyển dụng. Tuy nhiên, kết quả thu được cũng không khả quan vì nhiều doanh nghiệp không có phản hồi và nếu có thì ý kiến đóng góp cũng không nhiều hoặc còn chung chung. Do đó, các chương trình đào tạo và nội dung của các học phần thường ít gắn với các nhu cầu thực tiễn của các đơn vị.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Để đổi mới phương pháp dạy học môn thuế nhà nước theo hướng tiếp cận thực tiễn trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, qua nghiên cứu thực trạng, tác giả đề xuất thực hiện các giải pháp sau:
Một là, chuẩn hóa chương trình đào tạo
Các trường cần tổ chức xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra, trong đó xác định rõ mục tiêu, nội dung giảng dạy cụ thể cho từng học phần; điều chỉnh, cân đối thời lượng. Khi xây dựng chương trình đào tạo, cần thực hiện khảo sát lấy ý kiến của người học, người sử dụng lao động và các đối tượng liên quan về nhu cầu kiến thức và kỹ năng cần có, vị trí công việc. Trên cơ sở đó, cơ sở đào tạo xây dựng nội dung học phần đáp ứng yêu cầu của sinh viên cũng như các nhà tuyển dụng lao động.
Khi thay đổi nội dung chương trình, các cơ sở đào tạo cũng cần hướng tới việc sử dụng các giáo trình “chuẩn mực” hơn đối với từng học phần cho từng chuyên ngành. Các giáo trình cần “thân thiện” hơn với người dùng nhằm đáp ứng yêu cầu của sinh viên và giảng viên. Mỗi chương cần có mục tiêu hoặc kết quả đạt được sau khi học, danh mục các khái niệm hoặc từ mới, các hướng dẫn dành cho cả người học và người dạy, hệ thống văn bản pháp luật có liên quan và nội dung của chương cần trực tiếp dẫn các văn bản này để sinh viên có thể tra cứu các tình huống thực tế liên quan đến các luật thuế, hình ảnh hay số liệu minh họa… Bên cạnh đó, các giáo trình, tài liệu cần được kết hợp với các công cụ tham khảo trực tuyến, chẳng hạn như mục giải đáp chính sách tài chính trên trang web của Bộ Tài chính tại địa chỉ www.mof.gov.vn; các diễn đàn chia sẻ thông tin về các văn bản pháp luật như www.webketoan.vn và rất nhiều các trang khác. Một hình thức khác mà các nhà xuất bản nước ngoài thường sử dụng là đính kèm đĩa dữ liệu về các văn bản luật và các tình huống thực tế cùng với sách. Có như vậy, các giáo trình mới tạo hứng thú và sẵn tiện cho sinh viên học tập và nghiên cứu.
Song song với việc điều chỉnh, xây dựng chương trình thì cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập cũng là vấn đề cần được nhà trường quan tâm. Vì cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy, học tập là một trong yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giảng dạy và học tập trong sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên. Chính vì lý do đó, các trường cần có kế hoạch sửa chữa, nâng cấp, bổ sung trang thiết bị cần thiết cho công tác giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên như: máy chiếu, máy vi tính có kết nối mạng, cài đặt các phần mềm hỗ trợ kê khai thuế. Điều này sẽ giúp cho giảng viên phát huy được tối đa chất lượng bài giảng, kết hợp hiệu quả giữa lý thuyết và thực hành, giúp sinh viên tiếp thu tốt hơn bài học, áp dụng lý thuyết vào thực tế nghề nghiệp và hình thành nên các kỹ năng nghề nghiệp.
Hai là, tăng cường việc thực hành nghề nghiệp của sinh viên
Giảng viên giảng dạy học phần thuế nhà nước là người có ảnh hưởng lớn nhất và trực tiếp đến hiệu quả giờ dạy. Chính vì vậy, giảng viên cần có tư duy sáng tạo và áp dụng các phương pháp tiếp cận mới hoặc cải tiến phương pháp hiện tại mà họ đang áp dụng để làm hứng khởi không khí học tập tại lớp.
Giảng viên giảng dạy nghiệp vụ thuế phải bắt đầu từ việc dành nhiều thời gian dạy cho người học về phương pháp, kỹ năng, cách tự học, dạy cách sử dụng, khai thác các thiết bị… Theo đó, phải chuyển đổi cách học từ “nhớ” sang học để “hiểu” và học để vận dụng. Điều này đặc biệt phù hợp và thiết thực với phương pháp giảng dạy, đào tạo nghiệp vụ thuế, vì thuế là học phần chuyên ngành có tính logic và hệ thống rất cao. Đối với các chương nặng về lý thuyết liên quan đến giới thiệu học phần và các khái niệm cơ bản về thuế, từ chương thứ hai, đổi mới phương pháp không tập trung nhiều vào các trang trình chiếu, mà kết hợp với phương pháp giảng dạy đặt vấn đề, giải quyết tình huống. Phương pháp này giúp cho sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên được tốt hơn và sinh viên có nhiều cơ hội trao đổi với giảng viên về các vấn đề của môn học. Kết quả các các cuộc đối thoại trên lớp hỗ trợ rất nhiều vào tiến trình học tập của sinh viên, giúp sinh viên làm sáng tỏ được các vấn đề mà các em quan tâm. Thông qua phương pháp giảng dạy này, sinh viên được rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho công việc của mình trong tương lai. Sử dụng phương pháp kết hợp này không có nghĩa là giảng viên hoàn toàn không sử dụng trang trình chiếu mà chỉ coi chúng như là một công cụ hỗ trợ cho sinh viên trong quá trình học tập chứ không phải như một tài liệu giảng dạy thu nhỏ hay nguồn tham khảo thường ngày. Thay vào đó, sinh viên có thể sử dụng các trang trình chiếu đó hoặc tự chuẩn bị trang trình chiếu của chính mình trong các buổi trình bày và thảo luận về một chương hay một vấn đề trong chương trình học.
Để làm sáng tỏ hơn các diễn giải nội dung của các văn bản pháp luật và giúp sinh viên có thể áp dụng các nội dung này, giảng viên nên tổ chức thảo luận các tình huống thực tế mà người nộp thuế thường gặp phải. Giảng viên cần xây dựng một bộ câu hỏi, bao gồm các câu hỏi trực tiếp đến nội dung và việc vận dụng các văn bản pháp luật vào tình huống của các doanh nghiệp, cũng như các câu hỏi mở vào các buổi thảo luận cho sinh viên. Sinh viên phải có thời gian chuẩn bị cho các câu hỏi này trước khi bắt đầu buổi thảo luận chung. Các nhóm sinh viên sẽ sử dụng các văn bản pháp luật hiện hành để đưa ra cách giải quyết cho các tình huống đã cho trước và sau đó đóng góp ý kiến trong buổi thảo luận chung tại lớp. Giảng viên sẽ là người tổng hợp và đưa ra cách giải quyết hợp lý cho mỗi tình huống. Thông qua hoạt động này, sinh viên sẽ được củng cố kiến thức về các luật thuế và cách thức diễn giải về chúng như thế nào bởi các nhóm lợi ích khác nhau, bằng cách sử dụng các công cụ tìm kiếm trực tuyến. Quá trình nghiên cứu liên tục này của sinh viên, với sự hướng dẫn của giảng viên, sẽ giúp đa dạng hóa môi trường học tập và củng cố những gì đã được dạy và những gì cần phải học.
Đối với các chương có tính toán và thực hành kê khai, thu nộp thuế, giảng viên trước hết cần hướng dẫn sinh viên hoàn thành các biểu mẫu trên giấy. Sau khi sinh viên đã nắm vững các nguyên tắc và những kiến thức, kỹ năng để thực hành thực tế, giảng viên cần cung cấp các phương tiện và công cụ cho sinh viên trực tiếp thực hành trực tuyến thông qua máy tính cá nhân ngay tại lớp hay sử dụng phòng máy tính có kết nối mạng của trường. Để làm được điều này, bản thân giảng viên hoặc nhà trường cần có tài khoản đã được đăng ký với cơ quan thuế với đầy đủ chứng thư số hoặc chữ ký số để cung cấp cho sinh viên thực hành. Tuy nhiên, về lâu dài, cần có sự phối hợp giữa các cơ sở đào tạo với cơ quan quản lý thuế để đăng ký các tài khoản phục vụ cho mục đích giáo dục trên hệ thống khai thuế điện tử eTax. Có như vậy, sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể nắm rõ cách thức thao tác trực tiếp và bắt tay ngay vào công việc tại đơn vị.
Ba là, nâng cao ý thức tự học, tự cập nhật kiến thức của sinh viên
Vai trò của giảng viên trong quá trình dạy – học ở bậc đại học là quan trọng nhưng ý thức tự học, tự cập nhật kiến thức của sinh viên cũng quan trọng không kém trong việc hoàn thành mục tiêu của quá trình đó. Như đã đề cập ở trên, giảng viên cần nắm rõ những nhu cầu của người học để áp dụng các phương pháp giảng dạy kết hợp, nhằm đáp ứng các nhu cầu đó. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc giảng viên và sinh viên nên dành nhiều thời gian trên lớp để cùng nhau giải quyết các tình huống các đơn vị hay gặp về thuế trong thực tiễn và các câu hỏi ôn tập nội dung của từng bài học, thay vì giảng viên chỉ truyền đạt lý thuyết một chiều. Thêm vào đó, để hoạt động này đạt kết quả cao, sinh viên cần phải đọc trước giáo trình, tài liệu giảng dạy ở nhà và chuẩn bị cho các câu hỏi và tình huống. Khi tham gia thảo luận với các sinh viên khác hay trao đổi với giảng viên, sinh viên sẽ ngày càng tự tin và có thể lấp đầy các hạn chế, khiếm khuyết về lý thuyết lẫn kỹ năng cá nhân và kỹ năng thực hành nghề nghiệp.
Trong một môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế luôn thay đổi với nhiều vấn đề mới phát sinh, các chính sách của Nhà nước cũng cần phải thay đổi để thực hiện quản lý, điều tiết nền kinh tế. Chính sách thuế cũng không ngoại lệ. Do đó, giảng viên cần khuyến khích sinh viên chủ động cập nhật, hình thành nên thói quen tra cứu, tìm hiểu những thay đổi để tránh sai sót trong quá trình áp dụng các văn bản pháp luật vào thực tế tại đơn vị công tác. Việc tự nghiên cứu hiện nay rất dễ dàng nhờ vào mạng internet hoặc sự hỗ trợ ngày càng hiệu quả từ các cơ quan quản lý thuế. Quá trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng cần được thực hiện trong suốt chương trình giảng dạy, không nên tập trung vào một vài bài kiểm tra hay bài tập về nhà. Mặc dù trên thực tế, nếu giảng viên tham khảo ý kiến của sinh viên, họ sẽ nhận ra rằng, sinh viên có khuynh hướng không muốn được kiểm tra nhiều. Tuy nhiên, không có phương án khả thi nào khác tốt hơn để giảng viên, nhà trường có thể cung cấp cho các nhà tuyển dụng một chuẩn so sánh giữa sinh viên này với sinh viên khác bằng kết quả học tập. Để tạo cho sinh viên ý thức tự giác trong học tập, nghiên cứu, giảng viên nên sử dụng kết hợp nhiều phương pháp đánh giá thông qua các câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi kiểm tra kiến thức mỗi chương, tình huống thực tế, câu hỏi thảo luận mở, các bài tập ứng dụng, bài thuyết trình, bài kiểm tra giữa kỳ, bài tập về nhà và bài tập nhóm… Bằng cách này, sinh viên sẽ có nhiều cơ hội để thể hiện khả năng của bản thân và có thể học được nhiều hơn từ các sai sót của mình.
Bốn là, tổ chức thực hành, thực tập và trải nghiệm tại doanh nghiệp
Thực tập doanh nghiệp không chỉ là quá trình giúp sinh viên có được kiến thức, kinh nghiệm thực tế về một lĩnh vực chuyên môn. Trong suốt thời gian học tập, phần lớn thời lượng học tại lớp là thời gian sinh viên tiếp nhận, trau dồi kiến thức chuyên ngành. Thực tập doanh nghiệp là cơ hội để sinh viên trực tiếp áp dụng những kiến thức đã tiếp thu được trong nhà trường vào môi trường làm việc thực tiễn, giúp sinh viên hoàn thiện kỹ năng, năng lực mà còn mở ra cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp. Các nhà tuyển dụng cũng chính là người sử dụng các sản phẩm của quá trình đào tạo từ nhà trường cần phải tham gia sâu hơn vào việc hoàn thiện các kiến thức và kỹ năng cho sinh viên, những sản phẩm mà mình sẽ mong muốn sử dụng trong tương lai.
KẾT LUẬN
Giảng dạy các học phần trong chương trình đào tạo ngành kế toán nói chung và học phần thuế nhà nước nói riêng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, cũng như sự thay đổi nhanh chóng, liên tục của môi trường kinh doanh và chính sách của Nhà nước là một thách thức cho các giảng viên. Từ thực trạng các hạn chế của sinh viên khi tốt nghiệp trong việc sử dụng kiến thức và kỹ năng vào công việc thực tiễn, đến cách dạy và học, bài viết đã đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy học phần thuế cho sinh viên ngành kế toán. Điều quan trọng giúp sinh viên có thể tiếp cận ngay với công việc sau khi tốt nghiệp là cần phải tăng tính thực hành của môn học. Để đáp ứng được điều đó thì cơ sở đào tạo cần xây dựng nội dung đào tạo phù hợp, tránh tình trạng vừa thừa, vừa thiếu trong kiến thức và kỹ năng; đồng thời cần thay đổi cả về nội dung chương trình, tài liệu giảng dạy và sự kết hợp phương pháp giảng dạy của giảng viên. Thêm vào đó, khả năng tự học và tự cập nhật kiến thức của sinh viên và sự tham gia chặt chẽ của nhà tuyển dụng vào quá trình đào tạo của nhà trường là một yếu tố quan trọng giúp cho sự thành công của cả chương trình đào tạo nói chung và học phần thuế nói riêng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bret N. Bogenschneider, Esq (2015). A guide to teaching tax law from an international perspective, American International Journal of Contemporary Research, 5(5).
2. Hoàng Mạnh (2018). Đào tạo lại: Vì doanh nghiệp hay người lao động?, truy cập từ https://dantri.com.vn/viec-lam/dao-tao-lai-vi-doanh-nghiep-hay-nguoi-lao-dong-20180614095957187.htm;
3. Hoàng Minh (2025). Hơn 950 nghìn doanh nghiệp kê khai, nộp thuế điện tử gần 1 triệu tỷ đồng, truy cập từ https://vietnamfinance.vn/hon-950-nghin-dn-ke-khai-nop-thue-dien-tu-gan-1-trieu-ty-dong.
4. Nguyễn Thị Hoàng (2021). Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy thực hành môn kế toán trong kỷ nguyên công nghệ số, Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, 18.
5. Nguyễn Thị Thu Hoài, Tôn Thu Hiền (2029). Giáo trình thuế, Nxb Tài chính.
6. Trường Đại học Quy Nhơn (2017). Kỷ yếu Hội thảo khoa học kế toán – kiểm toán và kinh tế Việt Nam với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Nxb Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
|
Ngày nhận bài: 07/4/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/5/2025; Ngày duyệt đăng: 27/5/2025 |